Trang nhất » Tin Tức » Trang viết » Giáo viên

Đại hội Liên đội năm học 2018-2019.

Đại hội Liên đội năm học 2018-2019.

Thực hiện theo kế hoạch chương trình công tác đội và phong trào thiếu nhi năm học 2018 -2019, được sự chỉ đạo của Chi bộ, BGH nhà trường, sáng nay 28/9 Liên đội trường Tiểu học Trường Sơn đã tổ chức Đại hội Liên đội năm học 2018-2019.

Xem tiếp...

Bình những bài thơ hay trong chương trình Tiểu học

Thứ ba - 29/12/2015 20:27
"Nắng Ba Đình mùa thu Thắm vàng trên lăng Bác Vẫn trong vắt bầu trời Ngày tuyên ngôn Độc lập..."
 
NẮNG BA ĐÌNH.
Nắng Ba Đình mùa thu
Thắm vàng trên lăng Bác
Vẫn trong vắt bầu trời
Ngày tuyên ngôn Độc lập.
Ta đi trên quảng trường
Bâng khuâng như vẫn thấy
Nắng reo trên lễ đài
Có bàn tay Bác vẫy.
Ấm lòng ta biết mấy
Ánh mắt Bác nheo cười
Lồng lộng một vòm trời
Sau mái đầu của Bác...
                                                                               NGUYỄN PHAN HÁCH.    
          Bác Hồ kính yêu đã vĩnh biệt chúng  ta lâu rồi nhưng Người vẫn mãi mãi sống cùng non sông đất nước này. Đó là một sự thật. Hình bóng của Người, tinh thần của Người vẫn vẹn nguyên,vẫn hiển hiện khắp nơi, từ cỏ cây đến sắc trời, từ con đường đến màu nắng...Cảm giác này càng kì lạ và càng rõ ràng mỗi khi chúng ta đi trên quảng trường Ba Đình. Nhà thơ Nguyễn Phan Hách dường như đã nói giùm chúng ta điều đó.Từ ngày Bác đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Người đã mang về đây mùa thu cách mạng và trong ánh nắng mùa thu bao đời của thiên nhiên xứ sở, bắt đầu từ đấy cũng có một màu sắc mới: Nắng Ba Đình! Đó là nắng cách mạng, Nắng Tuyên ngôn, Nắng Bác Hồ!Đi trên quảng trường hôm nay, cảm xúc thơ đến từ ánh nắng in trên lăng Bác:
“ Nắng Ba Đình mùa thu 
Thắm vàng trên lăng Bác”      
Hai chữ “ thắm vàng” được dùng ở đây dường như nói được cả sự tươi tắn, sáng trong của nắng trời, cả ánh nắng huy hoàng từ sao vàng cờ đỏ, có cả ánh sáng kiêu hãnh tự hào của tấm lòng một công dân độc lập, lòng biết ơn sâu nặng của một người con đối với Bác Hồ. Hai chữ “ thắm vàng” còn như thắm vàng lên lăng Bác, làm cho khối hoa cương và cẩm thạch ấy rực rỡ nguy nga! Tác giả còn nhận ra sắc nắng, sắc trời hôm nay còn là sắc nắng, sắc trời của hôm nào:
“ Vẫn trong vắt bầu trời
Ngày tuyên ngôn Độc lập”       
Chao ôi! Màu nắng, màu trời trong vắt hiện ra trong một ngày thế rồi cũng hoá thành vĩnh viễn! Nghĩa là khoảnh khắc đã hoá thành vĩnh cửu. Đúng thế, bầu trời trong vắt ngày Tuyên ngôn Độc lập không bao giờ phai đối với tâm trí mỗi người dân Việt Nam! Cảm xúc của tác giả tiếp tục được nâng lên nữa:
“Ta đi trên quảng trường    
Bâng khuâng như vẫn thấy     
Nắng reo trên lễ đài      
Có bàn tay Bác vẫy”     
Nắng không chỉ có màu sắc “thắm vàng”.
Nắng còn cất lên tiếng nói của riêng mình nữa “ Nắng reo trên lễ đài”. Đó là ánh nắng thu đang xao động, hay nắng chính là tiếng sóng reo hò của muôn vạn con tim Việt Nam trong giờ phút Người đọc Tuyên ngôn, đến nay dư âm vẫn còn vang vọng, vẫn còn dậy lên trong sắc nắng Ba Đình? Có lẽ tất cả những ấn tượng ấy đã ùa đến trong lòng nhà thơ và hội tụ trong ngòi bút thơ ca, hội tụ vào hai chữ “Nắng reo”. Từ hai chữ “ Nắng reo”,người viết còn như hình dung cả bàn tay Bác vẫy trên lễ đài làm xao động cả nắng Ba Đình- “ Có bàn tay Bác vẫy” Tác giả nhìn màu nắng thực hôm nay làm sống động cả quá khứ; đem những hình ảnh của quá khứ làm hiển linh trong hiện tại này. Ấy là thủ pháp từ cái có (hữu) mà gợi dậy cái không (vô) vậy!Sự hiển hiện của Người vẫn toàn vẹn nhất là ở khổ thơ kết
:“Ấm lòng ta biết mấy   
Ánh mắt Bác nheo cười    
Lồng lộng một vòm trời   
Sau mái đầu của Bác...”     
Thì ra, tất cả nắng Ba Đình đều bắt nguồn từ ánh mắt của Người . Ánh nắng làm sáng lên, làm ấm lại cả dân tộc này là ánh nắng lan toả ra từ ánh mắt của Bác từ mùa thu ấy!Từ bàn tay vẫy, hình ảnh Bác cứ rõ dần hơn với “ Ánh mắt Bác nheo cười”, rồi cuối cùng là cả “ mái đầu của Bác”. Có phải trong những khoảnh khắc nào đó bằng lòng biết ơn Bác Hồ sâu nặng khi qua quảng trường Ba Đình, trong nắng Ba Đình, trong sắc trời Ba Đình, ta sẽ thấy bóng dáng Người hiển hiện như một hiển linh? Và chính điều ấy đã cho thấy Người đã hoà nhập, đã trường tồn cùng non sông đất nước này!Có lẽ thế!  “Nắng Ba Đình” đã cho ta thêm một lần cảm nhận về sự hiện diện thiêng liêng mà gần gũi của Bác Hồ trong đời sống hàng ngày của non sông và của mỗi một chúng ta!  
(Sưu tầm)
******************************************************************
Những lớp sóng ngôn từ trong bài thơ : "Tre Việt Nam"của nhà thơ Nguyễn Duy

             Cây tre, từ lâu đã trở thành một trong những biểu tượng đẹp đẽ về sức sống và phẩm cách của con người Việt Nam. Bài “Tre Việt Nam” được Nguyễn Duy sáng tác trong thời kỳ đế quốc Mỹ đang tiến hành cuộc chiến tranh huỷ diệt đất nước ta, thêm một lần nữa khẳng định điều này bằng những hình ảnh giàu sức khái quát và cách nói hồn nhiên, trong sáng:             
Tre xanh,           
Xanh tự bao giờ?
          Và liền sau đó là một câu trả lời: Chuyện ngày xưa... Chuyện về cây tre gợi cho người đọc khả năng liên tưởng đến những thần thoại, cổ tích. Chính không khí huyền thoại của khổ thơ đầu đã góp phần làm cho độc giả trong suốt cả bài thơ hiểu rõ ý nghĩa biểu trưng của cây tre Việt Nam. Từng bước, từng bước, qua mỗi khổ thơ, tác giả đã khắc họa hình ảnh cây tre với những đặc tính của dân tộc Việt Nam: cần cù, lạc quan, thương yêu đùm bọc và kiên cường, bất khuất.Đọc xong bài thơ, tôi cứ tự hỏi: có bao nhiêu hình ảnh xuyên suốt bài thơ? Hình như chỉ có một. Điều này chẳng đã được dự báo từ đầu đề của bài thơ? Đúng thật, bài thơ nói về cây tre, loại cây mọc khắp làng quê Việt Nam. Đó là tre Việt Nam, có thể hiểu là tre của Việt Nam, tre ở Việt Nam.Cây tre thân thiết với mỗi người Việt Nam nên mỗi chi tiết về nó, dù thoáng qua vẫn gợi nên tình cảm thân thương, quý mến.Thân gầy guộc, / lá mong manhMà sao nên luỹ, / nên thành / tre ơi? //Những từ gầy guộc, mong manh trong câu thơ giản dị, không có vẻ được trau chuốt nhưng đọc lên sao xúc động ? Đúng là tả tre nhưng lại thân thiết như nói về ta, nói về chính ta ?Ở đâu / tre cũng xanh tươi /Cho dù đất sỏi / đất vôi bạc màu?Cũng kì lạ, thuộc vào loại cây thân gầy, lá mỏng, vậy mà sức chịu đựng của tre thật kỳ diệu! Tre có thể mọc ở bất kỳ đâu, trong điều kiện đất đai cằn cỗi như thế nào... mà vẫn tươi xanh lạ thường. Dạng đặc biệt của câu hỏi tu từ ở đây là: có câu trả lời, mà là câu trả lời phiếm chỉ:Có gì đâu, / có gì đâu /Mỡ màu ít, / chắt dồn lâu / hoá nhiều.Rễ siêng / không ngại đất nghèoTre bao nhiêu rễ / bấy nhiêu cần cù.Vươn mình  trong gió / tre đuCây kham khổ / vẫn hát ru lá cành.     Không biết đây là lời của tác giả hay chính là lời của tre. Có thể là những suy tư của tác giả về sức tre mãnh liệt, cũng có thể là lời tâm tình của tre. Câu thơ lục bát ở khổ thơ trên theo nhịp 2/2, đến khổ thơ này đổi thành nhịp 3/3 (Có gì đâu... hoá nhiều). Nhịp điệu có vẻ như gấp gáp cùng với việc lặp lại: Có gì đâu, có gì đâu thể hiện phần nào đức tính khiêm nhường và lạc quan của tre. Người ta không thể biết là tre có bao nhiêu rễ thì cũng không thể biết sự cần cù của tre cao đến mức nào. Không chỉ có tre được nhân hóa mà cả rễ – một bộ phận của tre – cũng được nhân hoá: Rễ siêng không ngại đất nghèo.Hai câu cuối của khổ thơ là một hình ảnh đẹp, khái quát lại một phẩm chất của tre, cũng là của con người Việt Nam: vượt mọi gian khổ, luôn luôn lạc quan, cố gắng phấn đấu vươn lên (Vươn mình... lá cành). Tre phải chống chọi lại những cơn gió lớn. Thân cây có thể oằn lại, nhưng tre vẫn sẵn sàng chịu đựng để cho lá cành có thể đùa vui cùng gió.Trong một đất nước ở vùng nhiệt đới nắng nhiều, tre còn là biểu tượng của sức sống hiên ngang thần kỳ:Yêu nhiều nắng nỏ trời xanhTre xanh không đứng khuất mình bóng râm.Người đọc nhận ra ngay mình, ra vẻ đẹp kiên cường bất khuất của cộng đồng làng quê mình.Khổ thơ tiếp theo là khổ dài nhất, gần mười bốn câu nói đến những phẩm cách quý báu khác của tre: Tre biết yêu thương, đùm bọc, tre biết truyền cho con cháu “cái gốc” để con cháu noi theo, tre biết chịu đựng mọi gian khổ, dám hy sinh tất cả cho đời sau. Kết quả là lớp măng non đã tiếp thu được truyền thống bất khuất của cha ông. Những phẩm cách này của tre cũng chính là của con người Việt Nam:Bão bùng thân bọc lấy thânTay ôm, tay níu tre gần nhau thêmThương nhau tre không ở riêngLuỹ thành từ đó mà nên hỡi người.Miêu tả những khóm tre trong gió bão mà dùng hình ảnh thân bọc lấy thân, tay ôm tay níu của thân tre, cành tre thì đúng là hình ảnh của cây tre trong luỹ tre nhưng sao cứ vương vấn một cái gì khác nữa ngoài tre? Phải chăng là sự thương yêu đoàn kết giữa con người với nhau ? Tre, có thể liên kết với nhau thành luỹ, là trường hợp duy nhất trong các loài cây được con người gọi kèm với từ “luỹ”: luỹ tre.Tuy nhiên, sự đời có gì bền vững mãi, tre già thì măng mọc. Điều quý nhất là tre đã kịp để lại “cái gốc” cho con cháu noi theo. Tre còn là biểu tượng cho niềm kiêu hãnh, hiên ngang và hy sinh:Chẳng may thân gãy cành rơiVẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măngNòi tre đâu chịu mọc congChưa lên đã nhọn như chông lạ thường.Lưng trần phơi nắng phơi sươngCó manh áo cộc tre nhường cho con.“Tre già, măng mọc” là quy luật, đồng thời cũng thể hiện sức sống bất diệt của tre, của sự cần cù, bao dung, yêu thương giống nòi. Măng non là sự tiếp thu truyền thống bất khuất của cha ông:Măng non là búp măng nonĐã mang dáng thẳng thân tròn của tre.Nhọn như chông, dáng thẳng thân tròn là những chi tiết chân thực tả cây măng. Nhưng sao lạiNòi tre đâu chịu mọc cong?Hình như đâu phải chỉ nói đến tre, đến măng mà còn nói đến ai đó ngoài tre và măng?Càng đọc càng có thể cảm nhận được: ngoài cây tre là hình ảnh thực còn ẩn hiện một hình ảnh ảo nữa, hình ảnh về những con người Việt Nam – những con người “suốt cả cuộc đời từ khi sinh ra đến khi nhắm mắt xuôi tay đều gắn bó với tre, với nứa, với trúc,... những họ hàng thân thích của tre”.Tre Việt Nam có thể hiểu là tre của Việt Nam, tre ở Việt Nam nhưng cũng có thể hiểu tre như là Việt Nam. Một cách so sánh rút gọn thành ẩn dụ. Và mạch ẩn dụ ấy chạy suốt bài thơ, tạo nên vẻ đẹp lấp lánh của mỗi chi tiết. Cho nên thân gầy guộc, lá mong manh, thân bọc lấy thân, tay ôm tay níu, nòi tre là nói về tre nhưng cũng nói về người.Chi tiết lưng trần phơi nắng, phơi sương đích thực là chi tiết tả người nông dân một nắng hai sương nơi đồng quê. Chuyện nhường áo cho con đâu chỉ riêng của tre mà còn của người. Nó gợi nhớ chuyện cha con Chử Đồng Tử, gợi nhớ đức hy sinh cao đẹp của bao thế hệ đi trước.Cả bài thơ, như vậy có hai hình ảnh. Hình ảnh thực, hình ảnh dễ nhận ra là hình ảnh cây tre. Hình ảnh ảo, hình ảnh khó nhận thấy là hình ảnh con người Việt Nam. Hai hình ảnh ấy quấn quýt lẫn nhau, hoà vào nhau tạo nên bề sâu cho giọng thơ chân tình, chân thành vương vấn khắp bài thơ. Tạo nên cái kỳ ảo của bài thơ không chỉ có cách cấu trúc ẩn dụ của hình ảnh xuyên suốt bài thơ mà còn có màu xanh đặc biệt của tre, một màu xanh trải dài từ câu đầu tiên đến câu cuối cùng.Khổ thơ cuối cùng của bài thơ đột ngột thay đổi cách ngắt nhịp, cách ngắt dòng:Mai sauMai sauMai sau...Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh.Có thể nói đến sự trùng điệp ba dòng thơ Mai sau có một giá trị biểu đạt đặc biệt: ý thơ âm vang bay bổng, câu thơ gợi ra những liên tưởng phong phú.Dòng thơ cuối cùng với ba từ xanh trong những kết hợp cú pháp đặc sắc gợi một màu sắc trường tồn của tre Việt Nam, của con người Việt Nam của truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam.Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanhBài thơ khép lại trong màu xanh hy vọng, màu xanh của sự sống đang nảy nở ra cả chân trời. Ta đi trong màu xanh ấy để đến tương lai với niềm tin yêu vào đất nước mình.
ĐOÀN THỊ DIỆU PHÚC  Trường đhsp Huế 
******************************************************************
BÀI THƠ “NGHE THẦY ĐỌC THƠ”
                                      TRẦN ĐĂNG KHOA
Em nghe thầy đọc bao ngày
Tiếng thơ đỏ nắng xanh cây quanh nhà
Mái chèo nghiêng mặt sông xa
Bâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xưa
Nghe trăng thở động tàu dừa
Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời…

Đêm nay thầy ở đâu rồi
Nhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe…  
1. Trần Đăng Khoa sinh năm 1958, quê ở huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương, làm thơ từ lúc 8 tuổi, được mệnh danh là “thần đồng thơ ca”. Bài thơ này được Trần Đăng Khoa viết năm 1967. Theo tác giả cho biết người thầy giáo được nói tới trong bài thơ là thầy giáo Việt, người đã trực tiếp dạy tác giả năm đầu tiên đến trường. Năm 1966 thầy đi bộ đội và năm 1972 thầy hy sinh mặt trận Quảng Trị. Những bài giảng của thầy đã để lại trong tâm hồn chú bé Trần Đăng Khoa những ấn tượng hết sức sâu sắc                             
(theo tạp chí “Văn học và tuổi trẻ” số 113 - NXBGD)  
2. Trong sự nghiệp văn học nghệ thuật của nhà thơ Trần Đăng Khoa có thể nói mẹ và thầy giáo Việt – thầy giáo đầu tiên đã trở thành cảm hứng bất tận cho thơ. Từ đó “nhà thơ tí hon” trở thành “thần đồng thơ ca” như lời ngợi ca của một số nhà phê bình văn học đương thời.Chính mẹ và thầy giáo đã gieo vào tâm hồn trong sáng và tinh khiết của cậu bé Khoa tình yêu văn học.Thuở ấu thơ, bé Khoa được đắm mình trong lời ru ngọt ngào của mẹ, những câu chuyện mẹ kể, những vần thơ mẹ đọc đã in dấu ấn thật sâu sắc.
“Mọi hôm mẹ thích vui chơi
Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu
Lá trầu khô giữa cơi trầu
Truyện Kiều khép lại trên đầu bấy nay”
             (“Mẹ ốm” – Trần Đăng Khoa)
Tới tuổi cắp sách đến trường, bé Khoa lại được nguồn sữa tinh thần quý giá từ người thầy giáo đầu tiên bồi đắp. Với thiên phú bẩm sinh, với niềm say mê văn học, với sự nhạy cảm tinh tế, Trần Đăng Khoa đã “Xuất khẩu thành thơ”:
“Em nghe thầy đọc bao ngày
Tiếng thơ đỏ nắng xanh cây quanh nhà”
Phải chăng giọng đọc thơ của thầy có ma lực hút hồn tác giả và không những đem đến cho Trần Đăng Khoa một thế giới huyền diệu của cuộc sống “đỏ nắng xanh cây quanh vườn” mà còn làm sống dậy cả những kí ức xa xưa với những gì thương yêu nhất, đẹp đẽ nhất:
“Mái chèo nghiêng mặt sông xa
Bâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xưa
Nghe trăng thở động tàu dừa
Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời”
Có thể nói rằng người thầy giáo đầu tiên của nhà thơ đã làm nên một điều kỳ diệu, thổi vào hồn Trần Đăng Khoa những gì mới lạ nhưng cũng rất đỗi quen thuộc thân thương, giọng đọc thơ của thầy đã mang đến cho Khoa sự huyền diệu lấp lánh trong tâm hồn thơ trẻ.
Thế mới biết sức mạnh của thơ ca và sự cuốn hút của lời thầy giảng đến với thế giới trẻ thơ mãnh liệt biết nhường nào!
Để rồi dù thầy giáo đã “Lên đường ra mặt trận”, dù thầy đã “Tạm biệt mái trường yêu” (“Tiễn thầy giáo đi bộ đội” – Trần Đăng Khoa) thì dấu ấn về những bài thơ thầy đọc, những lời thầy giảng vẫn mãi ngân vang tha thiết sâu lắng trong tâm tưởng:
“Đêm nay thầy ở đâu rồi
Nhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe”       
Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ thấy sức mạnh của lời giảng của thầy mang đến cho học sinh lớn lao và cao đẹp biết chừng nào!
Nhân dịp ngày nhà giáo Việt Nam, đọc lại bài thơ “Nghe thầy đọc thơ” của Trần Đăng Khoa, là giáo viên ngữ văn, chúng tôi càng thấm thía lời tâm sự của nhà thơ Tố Hữu khi nói chuyện với thầy giáo và sinh viên trường ĐHSP 1 Hà Nội năm 1972 rằng: Dạy văn học, học văn học là niềm vui sướng lớn. Sau những giờ văn học thầy giáo có thể làm rung động các em, làm cho các em thêm yêu đời, yêu lẽ sống và lớn khôn thêm một chút.
                                                    Huế, tháng 11 năm 2007
                                                                T.T.N.H
********************************************************************
HẠT GẠO LÀNG TA 
                      ( Sách Tiếng Việt 5 – Tập 2 – trang 139)
                                           Kính tặng chú Xuân Diệu
Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm
Trong hồ nước đầy
Có lời mẹ hát
Ngọt bùi đắng cay...
Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có mưa tháng ba
Giọt mồ hôi sa
Những trưa tháng sáu
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy...
Hạt gạo làng ta
Những năm bom Mĩ
Trút trên mái nhà
Những năm khẩu súng
Theo người đi xa
Những năm băng đạn
Vàng như lúa đồng
Bát cơm mùa gặt
Thơm hào giao thông...
Hạt gạo làng ta
Có công các bạn
Sớm nào chống hạn
Vục mẻ miệng gầu
Trưa nào bắt sâu
Lúa cao rát mặt
Chiều nào gánh phân
Quang trành quết đất.
Hạt gạo làng ta.
Gửi ra tiền tuyến,
Gửi về phương xa.
Em vui em hát,
Hạt vàng làng ta.
Em vui em hát,
Hạt vàng làng ta.
Khi làm bài thơ này, Trần Đăng Khoa đang học cấp 1 nhưng bằng sự hiểu biết đời sống nông thôn và nhờ tài năng đặc biệt, bài thơ được viết ra một cách sâu sắc, rung động, giàu ý nghĩa nhưng lại rất trẻ con."
Hạt gạo làng ta.
Có vị phù sa,
Của sông Kinh Thầy.
Có hương sen thơm,
Trong hồ nước đầy…"
Ở lứa tuổi ấy mà biết nghĩ như thế là sâu sắc lắm. Từ một thực tế có tính khoa học là cây lúa hút chất dinh dưỡng dưới bùn, đất ra hoa trổ bông, kết hạt ( như ai cũng biết) thì nhà thơ bằng sự tinh tế của tâm hồn còn nghe được, cảm nhận được " vị phù sa". " hương sen thơm" trong hạt gạo. Và hơn thế nữa có cả tình người, lòng người ấp ủ:
"Có lời mẹ hát,
Ngọt ngào hôm nay. "
Làm ra hạt gạo gian khổ biết chừng nào. Ca dao cổ có câu thấm thía:
" Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần."
Đó là cách phát biểu trực tiếp, có tính chất luân lí, hơi nghiêng về lí trí. Còn trong bài thơ này , Trần Đăng khoa để thực tế nói lên:
" Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có mưa tháng ba
Giọt mồ hôi sa
  Những trưa tháng sáu"
Bão dập, nắng lửa, mưa dầm, thiên nhiên của đất nước Việt Nam đới khắc nghiệt này đã đổ vào đầu bà con nông dân bao nhiêu nhọc nhằn để làm ra hạt gạo , mà cụ thể nhất là bà mẹ của mình:
"Nước như ai nấu,
Chết cả cá cờ.
Cua ngoi lên bờ,
Mẹ em xuống cấy. "
Bốn câu thơ có sức chứa lớn về nội dung, về hình thức biểu hiện. Nghĩ bằng cách nghĩ của trẻ con, tác giả mới so sánh cái nước do mặt trời hun nóng lên ở ruộng với nước nóng mà ta đun nấu lên; nước nóng đến mức "chết cả cá cờ" thì phải là dưới con mắt và suy nghĩ của trẻ con mới nhìn thấy được. Vì sao vậy? Cá cờ là loài cá còn gọi là cá thia lia, thân đuôi nhiều màu sắc sặc sỡ, các cậu bé ở nông thôn mà bắt được là thường đem về nuôi ở chai, lọ thủy tinh như ở thành phố người ta nuôi cá vàng.Nước óng chết cả cá, như chết mất con cá cờ thì quả là tiếc đứt ruột. Phải có con mắt trẻ con, tâm lí trẻ con mới viết được hai câu thơ:"Nước như ai nấu,Chết cả cá cờ. "" Cua ngoi lên bờ" không sống ở nông thôn không có thực tế ruộng đồng thì không có câu thơ đó. Nóng quá, cua phải ngoi lên bờ, nhưng bất ngờ đến sửng sốt:
" Cua ngoi lên bờ,
Mẹ em xuống cấy…"
Hai câu thơ, hai hình ảnh đối nghịch nhau gây một chấn động tình cảm mạnh trong lòng người đọc. Có phải nói gì nhiều về những vất vả của người mẹ để làm ra hạt gạo? Hai câu thơ đó đã nói lên quá nhiều.Kể ra bài thơ dừng ở đây là được rồi, là đúng với lứa tuổi của người viết. Nhưng trong thời điểm cả nước dồn sức đánh Mĩ, trẻ con cũng già đi trước tuổi. Các em không được sống cái hồn nhiên cái tuổi bắt dế, nuôi chim của mình. Trần Đăng Khoa cũng vậy mà còn hơn thế nữa. Vì thông minh hơn người, em tiếp cận không khí chính trị, không khí xã hội một cách nhạy bén:
"Những năm bom Mỹ
Trút trên mái nhà
Những năm cây súng
Theo người đi xa
Những năm băng đạn,
Vàng hơn lúa đồng.
Bát cơm mùa gặt,
Thơm hào giao thông…"
Băng đạn vàng như lúa đồng, có lẽ đó là ý thơ hay nhất trong cả bài và cũng là câu thơ hay nhất trong tất cả những bài thơ viết về người nông dân miền Bắc trong những năm đánh Mĩ. Câu thơ này hay về sự điển hình, hay về sự so sánh độc đáo, mới lạ và chính xác. Phải sống trong những năm tháng ấy mới có sự liên tưởng về bông lúa vàng trĩu hạt với những băng đạn vàng rực, cũng nặng trĩu trong tay người đánh giặc.Trần Đăng Khoa vừa miêu tả hạt gạo nghìn đời, vừa nói đến hạt gạo những năm đánh Mĩ: gian khổ và nghĩa tình. Tác giả biết chọn lọc những hình ảnh có sức rung động. Câu thơ:
'"Bát cơm mùa gặt,
Thơm hào giao thông…."
 Vừa nói lên được hoàn cảnh vừa nêu được khí thế đất nước của ngày ấy.

Nguồn tin: Website Trường Tiểu học Số 2 Tứ Hạ (Thừa Thiên Huế)

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Giới thiệu

Giới thiệu về Trường TH Trường Sơn

Trường Tiểu học Trường Sơn được thành lập năm 2012, với tiền thân là Trường Tiểu học Trường Sơn 1 và Trường Tiểu học Trường Sơn 2. Trường được đóng trên địa bàn xã Trường Sơn, xã hai lần anh hùng. Năm 2014, xã Trường Sơn hoàn thành tiêu chí xây dựng Nông thôn mới trước 1 năm. Trên cái nôi truyền...

Liên kết hình ảnh

Phòng GD&ĐT Đức Thọ
Sở GD&ĐT Hà Tĩnh
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM
Chinh Phục Vũ Môn
Thi Toán qua mạng
Thi Tiếng Anh qua mạng
Hệ thống quản lý nhà trường
Trường học kết nối
Kiểm đinh CLGD
Diễn đàn GD tiểu học Hà Tĩnh

Liên kết Website

Thông báo

Cuộc thi “Tuổi trẻ học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” năm 2018 (Xem chi tiết tại đây)


Công tác Kiểm định CLGD


Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 46

Máy chủ tìm kiếm : 39

Khách viếng thăm : 7


Hôm nayHôm nay : 712

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 17160

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1031625

Lời hay ý đẹp

Hôm nay em tự hào về nhà trường, ngày mai nhà trường tự hào về em
Website Trường tiểu học Trường Sơn - Đức Thọ - Hà Tĩnh
Xây dựng trên nền tảng Mã nguồn mở NukeViet
Mọi thông tin xin liên hệ Email: tieuhoctruongsonht@gmail.com

Xem bản: Desktop | Mobile